SỐC CHẤN THƯƠNG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

SỐC CHẤN THƯƠNG

Bài gửi  trasua on Tue Apr 05, 2016 8:54 pm

1. Đại cương
1.1. Khái niệm
Vết thương hỏa khí là vết thương do tác nhân vũ khí nổ có vận tốc lớn gây ra. Vết thương hỏa khí là dạng tổn thương đặc trưng nhất của thương tổn chiến tranh, có tính chất tổn thương phức tạp và có qui luật diễn biến đặc thù riêng.
Sốc chấn thương là tình trạng suy sụp toàn thân sau chấn thương, biểu hiện rõ trên lâm sàng bằng hội chứng suy chức năng tuần hoàn và các chức năng khác, dẫn đến không cung cấp đủ nhu cầu oxy cho các cơ quan và tổ chức.
1.2. Những thương tổn trong chiến tranh:
Thương tổn trong chiến tranh bao gồm những chấn thương các loại và các trạng thái bệnh lý do các vũ khí sát thương gây ra.
1.2.1. Vũ khí sát thương thông thường:
- Vũ khí lạnh: gồm có các loại như dao, lưỡi lê, gươm, giáo, mác…
- Hỏa khí: gồm các loại đạn bắn thẳng, đạn cối, đạn pháo, lưu đạn, bom, mìn, tên lửa, rốc két… Thương tổn do vũ khí sát thương thông thường là các loại vết thương, vết bỏng, chấn thương kín do sức ép. Có thể là những thương tổn đơn thuần và thương tổn kết hợp.
1.2.2. Vũ khí sát thương hàng loạt:
Trong chiến tranh hiện đại, tổn thương có thể do nhiều loại vũ khí mới đã gây ra một loạt các thương tích mới khác hẳn các tổn thương gây ra do hoả khí thông thường. Đó là các loại vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học và vũ khí sinh học.
- Thương tổn do vũ khí hạt nhân bao gồm: bỏng do bức xạ ánh sáng, do chất phóng xạ, bệnh phóng xạ cấp, các chấn thương cơ học (vết thương và chấn thương kín), những thương tổn này thường là thương tổn hỗn hợp.
- Thương tổn do vũ khí hoá học bao gồm: các trạng thái nhiễm độc toàn thân và nhiễm độc tại chỗ
- Thương tổn do vũ khí sinh học bao gồm: các bệnh lây nguy hiểm và tối nguy hiểm.
1.3. Phân loại sốc chấn thương:
- Theo nguyên nhân: +Sốc thần kinh phản xạ.
+Sốc mất máu.
+Sốc nhiễm độc v.v...
- Theo thời gian xuất hiện : +Sốc tiên phát
+Sốc thứ phát
- Dựa vào diễn biến lâm sàng.
1.3.1 Sốc cương: Bệnh nhân trong tình trạng phản ứng kích thích, mạch nhanh huyết áp tăng, thở tăng v.v... Theo nhiều tác giả nhận thấy sốc cương thường xẩy ra trong vòng 10 - 30 phút đầu. Tỷ lệ thường gập khoảng 8 - 12% (Sraiber M.G). Có người cho sốc cương xảy ra ở hầu hết các thương binh những mức độ phản ứng có khác nhau, đôi khi yếu quá ta tưởng như không có (Petrov).
1.3.2. Sốc nhược: Hệ thần kinh trung ương bị ức chế nên các phản ứng toàn thân cùng trong tình trạng suy giảm. Sốc nhược chia ra các mức độ sau.
- Độ 1: Huyết áp 90 - 100 mmHg, mạch 90 - 100 mmHg. Hệ thần kinh trung ương bị ức chế nhẹ, các phản xạ giảm.
- Độ 2: Huyết áp 80 - 90 mmHg, mạch 110 - 120/phút. Da xanh, thở nông. Thần kinh trong tình trạng ức chế.
- Độ 3: Huyết áp 60 - 70 mmHg, mạch trên 120/phút. Da xanh nhợt, ức chế nặng thần kinh, trí thức lơ mơ.
- Tình trạng tận cùng: là tình trạng nặng, trầm trọng, gây ra bởi nhiều nguyên nhân như dập nát cơ và xương, chảy máu cấp, bỏng, ngạt thở, ngộ độc v.v... Mặc dù nguyên nhân khác nhau những biểu hiện lâm sàng giống nhau, Tình trạng tận cùng được chia ra:
+ Tiền hấp hối: Tri thức bị rối loạn, không lấy được huyết áp. Mạch chỉ sờ thấy ở các động mạch lớn (bẹn, cổ) thở nông và nhanh.
+ Hấp hối: Tri thức không còn, mạch và huyết áp chỉ không lấy được ở ngoại vi. Rối loạn hô hấp nặng thở ngáp cá.
+ Chết lâm sàng: Ngừng tim, ngừng thở thời gian kéo dài khoảng 5 phút, nếu không điều trị sẽ chuyển sang chết sinh vật.
1.3.3. Sốc hồi phục và không hồi phục:
Vấn đề này rất quan trọng. Nếu quá trình thiếu ôxy kéo dài sẽ gây những tổn thương không hồi phục nó thể hiện trước tiên ở não sau đó ở tất cả các cơ quan khác. Quá trình này phụ thuộc vào việc cung cấp máu. Nếu huyết áp hạ thấp ở mức 60 - 70 mmHg kéo dài có thể dẫn tới tình trạng sốc không hồi phục. Theo nghiên cứu của Vasaze (1966) nếu huyết áp ở mức 40 mmHg trong vòng trên 2 giờ, và HA ở mức 60 mmHg trong vòng 7 giờ thì sốc sẽ chuyển sang giai đoạn không hồi phục. Nếu huyết áp hạ thấp, thậm chí không lấy được nhưng ta điều trị đưa ngay huyết áp trở lại ngưỡng lọc bình thường của thận trong thời gian ngắn có thể tình trạng sốc không hồi phục sẽ không xảy ra.
Thực tế quá trình biến đổi không hồi phục ngoài huyết áp ra nó còn phụ thuộc cả vào tình trạng tổn thương của các cơ quan quan trọng nữa. Cho nên đánh giá quá trình sốc hồi phục hay không ta phải căn cứ vào tình trạng lâm sàng và tình trạng cụ thể tổn thương ở từng bệnh nhân một.
1.4. Cơ chế sinh lý bệnh
Trước những chấn thương và mất máu cơ thể có phản ứng bảo vệ như tim đập nhanh, mạch máu co lại, máu hoà loãng, thở tăng v..v... Trong các phản ứng thích nghi này có 2 hiện tượng cần chú ý là quá trình co thắt các mạch máu nhỏ và hiện tượng hoà loãng máu.
Quá trình hoà loãng máu xảy ra ngay sau khi bị chảy máu cấp nhưng sự hồi phục hoàn toàn thể tích huyết tương bị mất thường phải sau một thời gian 24 - 48 giờ.
Quá trình co thắt các mạch máu nhỏ do phản ứng của hệ thần kinh giao cảm nhanh hơn. Các catecholamine được tiết ra làm các mạch máu co lại để giữ huyết áp khỏi tụt. Người ta gọi giai đoạn này là giai đoạn sốc cương. Hiện tượng co thắt các mạch máu nhỏ sẽ làm máu không qua hệ thống mao mạch được mà qua các shunt nối động tĩnh mạch trở về tim để đảm bảo khối lượng máu cung cấp cho các cơ quan quan trọng như tim, não hiện tượng này gọi là hiện tượng thiếu ôxy ở tổ chức và tế bào xảy ra trầm trọng do co thắt các mao mạch.
Tình trạng thiếu ôxy này càng tăng khi sự mất máu càng lớn và có kèm theo rối loạn thông khí. Do thiếu ôxy nên quá trình chuyển hoá bị dở dang. Những sản phẩm của quá trình chuyển hoá dở dang này như a.lactic, a.puruvic, Ferritin, histamin... tăng lên sẽ dẫn tới tình trạng toan và làm nhiễm độc thành mạch, làm các mao mạch bị liệt và giãn ra. Lúc này huyết áp tụt và sốc chuyển sang giai đoạn nhược (sốc nhược). Bệnh nhân nằm trong tình trạng ức chế. Nếu không được điều trị tình trạng này có thể kéo dài tới tử vong.
Khi các mao mạch bị liệt và giãn ra sẽ làm máu ứ đọng ở hệ mao mạch và huyết tương sẽ thấm ra ngoài làm máu bị cô lại và các hồng cầu sẽ dính vào nhau. Hiện tượng đông máu rải rác trong lòng mạch xảy ra. Ở giai đoạn này việc điều trị sốc rất khó khăn người ta gọi giai đoạn này là giai đoạn sốc không hồi phục. Hiện tượng hoà loãng máu (hemodilution) xẩy ra rõ ràng ở những trường hợp mất máu hơn ở những trường hợp bị chấn thương đơn thuần. Ở sốc chấn thương hiện tượng phản ứng bệnh lý xẩy ra phức tạp hơn vì nó bao gồm cả mất máu và chấn thương.
Qua sự phân tích cơ chế bệnh sinh trên ta thấy lúc đầu yếu tố gây bệnh đóng vai trò quan trọng là mất máu và chấn thương, nhưng càng về sau thì tác nhân gây bệnh chủ yếu lại là những yếu tố không đặc hiệu (những sản phẩm của quá trình chuyển hoá do thiếu ôxy) ngày càng tăng và giữ vai trò quan trọng. Cho nên muốn ngăn chặn những yếu tố không đặc hiệu trên cần phải điều trị sớm. Để muộn việc điều trị sẽ rất khó khăn. Chính những yếu tố không đặc biệt này sẽ gây ra nhiễm độc hệ vi tuần hoàn như trên đã nói, đồng thời nó sẽ gây hàng loạt các rối loạn bệnh ở hệ thần kinh, gan, phổi, thận, tiêu hoá.v.v.... Những rối loạn này sẽ dẫn tới quá trình tử vong của bệnh nhân.
2. Triệu chứng
2.1. Triệu chứng lâm sàng
2.1.2. Sốc còn bù (sốc cương)
- Tỉnh táo nhưng bị kích thích, giãy giụa, vật vã, nói nhiều kêu đau.
- Tăng cảm giác, tăng phản xạ, tăng trương lực.
- Mạch nảy, tần số bình thường hoặc nhanh.
- Huyết áp tâm thu tăng (140/90 - 200/140mmHg).
- Huyết áp tĩnh mạch trung ương có thể tăng.
- Thân nhiệt bình thường hoặc tăng hoặc hơi giảm.
- Thở nhanh 20 - 30 chu kỳ/phút, sâu
- Xét nghiệm: Đường máu tăng, máu hơi cô, Bạch cầu tăng, hàm lượng
Nor-Adrenalin, Adrenalin máu tăng; Na+, Ca+ giảm.
- Điện não: nhịp của làn sóng nhanh, không đồng nhịp, biên độ cao.
2.1.3. Sốc mất bù (Sốc nhược).
Trạng thái suy sụp toàn bộ các chức phận sống biểu hiện bằng:
- Trạng thái ức chế hệ thần kinh trung ương.
- Huyết áp tâm thu giảm, giảm cảm giác, giảm thân nhiệt, giảm phản xạ và trương lực cơ.
- Huyết áp tâm thu: sốc nhẹ khi huyết áp tâm thu: 90 - 100mmHg, sốc vừa khi huyết áp tâm thu 60 - 90mmHg, sốc nặng < 60mmHg.
- Mạch nhanh >100chu kỳ/phút, nếu sốc nặng thì mạch nhanh nhỏ khó bắt
- Áp lực tĩnh mạch trung ương thấp < 4mmHg (bình thường 8-12mmHg), áp lực tĩnh mạch trung ương tăng trong các tình huống như có tràn khí màng phổi, chèn ép tim cấp do tràn máu màng ngoài tim
- Da, niêm mạc nhợt, vã mồ hôi lạnh, đồng tử giãn, lập loè móng tay giảm.
- Nằm yên, thờ ơ, tri giác còn ít hoặc mất tri giác, hôn mê, có những cơn kích động vật vã, co giật do thiếu oxy não ở mức độ nặng.
- Thở nhanh nông: 30 - 40 chu kỳ/phút, nặngthở nhanh nông hoặc thở chậm, loạn nhịp thở theo kiểu Cheyne Stoke hoặc Biot, thở ngáp cá (do rối loạn tuần hoàn não)
- Lượng nước tiểu giảm, nếu sốc nặng sẽ thiểu niệu, vô niệu.
- Trong trường hợp bệnh nhân có chấn thương ngực gây tràn khí, tràn dịch, khí màng phổi thì biểu hiện trên lâm sàng là tình trạng sốc và suy hô hấp nặng: nghẹt thở, vật vã, kích thích, tím tái đặc biệt là vùng đầu mặt. Mạch nhanh Huyết áp tâm thu tụt, thở nhanh nông, rì rào phế nang giảm hoặc mất.
- Bệnh nhân có chèn ép tim cấp thì biểu hiện trên lâm sàng là tình sốc chèn ép tim cấp kết hợp với mất máu, tam chứng Beck bao gồm: Huyết áp tâm thu tụt, kẹt, tĩnh mạch cổ nổi và tiếng tim mờ xa xăm.
- Sốc tủy: Tụt Huyết áp tâm thu phối hợp với mạch chậm ≤ 50 chu kỳ/phút và mạch nẩy.
2.2. Xét nghiệm:
- Hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm, Hematocrit giảm. Glucose và ure máu tăng, Kalimáu tăng.
- Xét nghiệm khí máu biểu hiện tình trạng nhiễm toan: pH giảm, chỉ số kiềm dư (BE) giảm và lactat máu tăng.
3. Chẩn đoán
- Chẩn đoán xác định: Chấn thương lớn, lượng máu mât trên 500ml chỉ số allgower ≥1. Biểu hiện suy chức năng sống.
- Chẩn đoán phân biệt:
+ Ngất: không có tổn thương hoặc hôn mê do nhiều nguyên nhân.
+ Trạng thái truỵ mạch.
4. Cấp cứu, điều trị
4.1. Nguyên tắc cấp cứu, điều trị
Sốc do vết thương hỏa khí là tình trạng bệnh lý phức tạp do đó công tác cấp cứu điều trị phải được tiến hành khẩn trương, tích cực và đồng bộ. Quá trình điều trị phải đồng thời giải quyết các công việc sau
4.2. Cấp cứu, điều trị theo tuyến
- Trong giai đoạn đầu điều trị, nếu nhận thấy việc điều trị bệnh nhân không thể thực hiện tốt tại cơ sở hiện tại, cần vừa tiến hành hồi sức vừa chuyển bệnh nhân tới cơ sở cấp cứu ngoại phù hợp gần nhất. Khi chuyển bệnh nhân, người phụ trách bệnh nhân sẽ trình bày và bàn giao trực tiếp cho bác sỹ tiếp nhận về tình hình người bệnh. Nên có bác sỹ đi cùng xe cấp cứu với bệnh nhân khi chuyển đi.
- Điều trị chấn thương ở các bộ phận riêng biệt của cơ thể, chỉ nên được tiến hành sau khi thực hiện các bước nêu trên, ổn định các dấu hiệu sống của bệnh nhân hoặc gần đạt được điều đó. Cùng với đánh giá cấp hai chi tiết vùng đầu, mặt, cổ, lồng ngực, ổ bụng, cột sống, tuỷ sống, xương chậu, tứ chi, mạch máu ngoại vi, đồng thời phán đoán xem tại cơ sở mình có khả năng điều trị được hay không, có nên chuyển đi hay không. Không mất thời gian vào chẩn đoán, không kéo dài phẫu thuật và thuyên chuyển.
4.3. Điều trị chuyên khoa
4.3.1. Bảo đảm chức năng hô hấp
- Đánh giá và đảm bảo lưu thông đường thở
- Bắt đầu bằng hỏi bệnh: nếu bệnh nhân trả lời bình thường chứng tỏ đường thở lưu thông tốt, khám đánh giá tình trạng lưu thông, tình trạng thiếu oxy, các tổn thương gây tắc nghẽn đường thở
- Để đảm bảo lưu thông đường thở có thể bắt đầu bằng biện pháp đơn giản như đạt tư thế đầu bệnh nhân, ưởn cổ, nâng hàm, cố định cổ trong tổn thương cột sống cổ, lấy dị vật đường thở bằng nghiệp pháp Hemlich, lau hút đờm dãi trong miệng và khí quản. Có thể thực hiện các kỹ thuật kiểm soát đường thở như: cắm kim to qua màng giáp nhẫn, đặt ống nội khi quản, mở màng sụn giáp nhẫn hoặc mở khí quản nếu có chỉ định.
- Đảm bảo thông khí và cung cấp oxy.
- Chẩn đoán kịp thời và xử trí cấp cứu các tổn thương ngực đe doạ tính mạng: tràn khí áp lực, mảng sườn di động, tràn máu màng phổi nặng, vết thương ngực hở, chèn ép tim do tràn máu màng ngoài tim.
- Cho bệnh nhân thở oxy (2 - 4lít/phút) thông khí nhân tạo nếu cần.
- Đặt ống nội khi quản.
4.3.2. Đảm bảo tuần hoàn
- Khẩn trương khôi phục khối lượng máu lưu hành:
+Trước tiên truyền Ringerlactat để điều trị toan chuyển hóa; hoặc NaCl 0,9%.
+ Máu tươi.
- Dung dich thay thế máu: dung dịch cao phân tử Dextran 40.000 - 70.000 đv, huyết tương khô, Gelatin, huyết tương tươi, dung dịch Albumin 5 - 20% đảm bảo Hematocrit 30% đủ huyết cầu tố không để quá cao dễ xảy ra hiện tượng đông máu.
- Tốc độ truyền: Căn cứ vào huyết áp động mạch, áp lực tĩnh mạch trung ương và nước tiểu 24giờ. Nếu huyết áp tâm thu < 50mmHg, áp lực tĩnh mạch trung ương từ 0 - 3c­­­m H­­2O thì phải truyền thành dòng (tốc độ khoảng 1000ml/5 phút) Khi huyết áp tâm thu từ 70 - 90mmHg thì truyền chậm lại để duy trì huyết áp.
- Số lượng dịch truyền: Sốc nặng, lúc cấp cứu thì lúc này số lượng quan trọng hơn chất lượng. Truyền dung dịch Ringelactat bằng 5% trọng lượng cơ thể. Nếu Hematocrit > 35% chỉ số cần truyền dịch. Nếu < 30% thì sau khi truyền 1000ml Ringelactat thì truyền máu, sau đó truyền xen kẽ.
- Trợ tim: Khi truyền đủ lượng dịch mà huyết áp vẫn không lên thì:
+ Dùng thuốc co mạch: Dopamin, Dobutamin.
+ Truyền Dopamin bằng bơm tiêm điện.
+ Nếu không có bơm tiêm điện thì pha 1ống Dopamin 50mg/1ml với 500ml huyết thanh mặn 0,9% truyền số giọt tương đương với trọng lượng cơ thể bệnh nhân thì cũng tương đương với tốc độ truyền 5µg/1 kg / 1phút. Cách tính: 1ống Dopamin 50 mg/1ml pha với 500ml huyết thanh mặn 0,9%. Tốc độ 5µg/ 1kg/1 phút.
≤ 60 kg trọng lượng cơ thể 60 giọt/phút. Nếu ống Dopamin 200mg bệnh nhân có trọng lượng ≥ 60kg P thì truyền 15 giọt/phút.
- Phải kiểm tra xem tim có suy không (do bệnh van tim, bệnh cơ tim). Nếu phát hiện thấy bệnh lý tim mạch thì phải cho thuốc cường tim nhóm Digitalid.
Digoxin 0,4 - 0,8mg tiêm tĩnh mạch. Glucagon: 5 - 10mg tiêm tĩnh mạch, sau đó có thể truyền tĩnh mạch.
- Nếu không có bệnh van tim cơ tim thì xem tim có bị đè ép do tràn máu màng ngoài tim, tràn máu trung thất, tràn máu tràn khi khoang màng phổi không.
- Nếu có tràn máu, tràn khí khoang màng phổi thì phải dẫn lưu khoang màng phổi bằng sonde Argyle.
- Nếu tràn máu tràn khí trung thất thì chọc dẫn lưu.
- Nếu tràn máu màng ngoài tim thì chọc hút theo đường Marphan.
4.3.3. Giảm đau và chống các rối loạn của thần kinh
- Cố định vững chắc
- Phong bế gốc chi, phong bế thần kinh liên sườn, gây tê ổ gãy.
- Dùng thuốc giảm đau toàn thân đường TM hoặc bắp thịt. Thuốc hay dùng: Mocphin, Dolacgan, Fentanyl, Perfangan, aspegic, profenid... Không dùng thuốc giảm đau khi chưa loại trừ hoặc đang theo dõi vết thương bụng.
4.3.4. Bảo đảm chức năng thận (chống suy thận)
- Đặt thông bàng quang để theo dõi lượng nước tiểu theo giờ (bình thường 1,5ml/kg/giờ)
- Không để huyết áp tâm thu thấp kéo dài, truyền đủ nước, điện giải
- Lựa chọn kháng sinh không độc với thận
- Huyết áp tâm thu > 90mmHg, CVP > 5cm H20 mà nước tiểu ít, dùng Lasix 20mg, sau 1giờ cho tiếp 20mg đảm bảo lượng nước tiểu 60ml/giờ
- Xét nghiệm và theo dõi ure, creatinin máu, Kali máu và pH maul.
4.3.5. Điều trị các rối loạn nước điện giải, đông máu, chảy máu, rối loạn chuyển hóa, thăng bằng kiềm toan.
- Điều chỉnh toan huyết: Chỉ điều chỉnh toan huyết khi pH máu < 7,2. Dùng Natri bicarbonate 1,4% trong sốc giảm thể tích máu, dung dịch 8,4% trong sốc tim.
-Chống rối loạn đông máu:
+ Truyền máu tươi là tốt nhất.
+Sau khi có xét nghiệm đông máu toàn bộ thì mới có chỉ định dùng thuốc chống đông (Heparin 5000đv tiêm tĩnh mạch sau đó truyền tĩnh mạch ngày 2 lần) hay thuốc đông máu (Transamin)
+Máu tươi: là máu vừa mới được lấy, tối đa là 1 tuần; sau 1 tuần mất các yếu tố đông máu, các yếu tố miễn dịch, Kali từ HC thoát ra ngoài nếu dùng để truyền sẽ gây tăng kali máu cho BN.
+Khi truyền máu nên kết hợp với bổ sung Canxi: 1đơn vị máu nên bổ sung 1g Ca+ (không được tiêm Ca+ vào dây truyền máu sẽ gây đông máu, chỉ tiêm Ca+ vào dây dịch truyền).
4.3.6. Chống nhiễm khuẩn.
- Dùng kháng sinh sớm, liều cao và liên tục ngay từ khi bị thương. Kết hợp nhiều loại kháng sinh và theo kháng sinh đồ.
- Kết hợp kháng sinh tại chỗ đưa vào tận ổ nhiễm khuẩn với kháng sinh toàn thân.
- Nếu chưa có kháng sinh đồ thì dùng kháng sinh theo kinh nghiệm: Cefotaxim-amikaxin hoặc: Imipenem (Tienam): trong nhiễm khuẩn Gram (-) như trực khuẩn mủ xanh. Sử dụng vancomycin trong nhiễm khuẩn Gram (+) như tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn.
- Quinolon: Ciprofloxacin (Nếu có nhiễm khuẩn đường tiết niệu).
- Cắt lọc sơ bộ.
4.3.7. Xử trí nguyên nhân gây sốc.
- Những can thiệp có tính chất tối khẩn cấp.
- Mở khí quản cấp cứu.
- Cầm máu các chảy máu ngoài, chảy máu throng.
- Khâu vết thương ngực hở.
- Xử lý vết thương phế mạc van: chọc hút dịch, khí phê mạc van.
- Mổ cấp cứu: khi thương binh thoát sốc, đã hồi sức cấp cứu tích cực trên 30 phút.
- Mở lồng ngực cầm máu.
- Khâu nối mạch máu.
- Mổ cắt cụt chi thể.
- Mổ giải phóng chèn ép não.
4.4. Đánh giá thương binh đã ra khỏi tình trạng sốc
Căn cứ vào các chỉ số sau:
- Huyết áp có ổn định không?
- Mạch có nẩy không, tần số có nhanh không?
- Tri thức bệnh nhân có tỉnh không, cảm giác chủ quan thế nào?
- Da chân tay có ấm không, các tĩnh mạch có nổi không?
- Lượng nước tiểu có bình thường không?
- Chỉ số huyết động và máu (hồng cầu, Hematocrit, Hemoglobin) trở lại bình thường chưa?
- Chỉ số diễn giải, toan kiềm đã bình thường chưa?
Chỉ khi nào các chỉ số trên trở lại bình thường ta mới có thể kết luận thương binh đã ra khỏi tình trạng sốc.

5. Tài liệu tham khảo
1. Lê Xuân Thục, Sốc chấn thương Giáo trình Hồi sức cấp cứu - Học viện Quân y. Nhà xuất bản QĐND- 2002. Trang 48-61
2. Denzin W. Hawkinberry, Asushirvan Minokadeh. Initial circulation assessment and shock prevention. Trauma, emergency resuscitation, perioperative anesthesia, surgical management. William C. Wilson, David B. Hoyt. Informa healthcare, New York, 2007. 1 : 235-246
3. Richard P. Dutton, Robert S. Howard. Fluid resuscitation strategy. Trauma, emergency resuscitation, perioperative anesthesia, surgical management. William C. Wilson, David B. Hoyt. Informa healthcare, New York, 2007. 1 : 215-234
4. Basic Trauma and Burn Support. Trong: Fundamental Critical Care Support. 4th edition. © 2007 by Society of Critical Care Medicine.
5. The Trauma Manual: Trauma and Acute Care Surgery. 3rd edition 2008

Mai Xuân Hiên

_________ TraSua.ForumVi.NeT ________

Không có em đời anh như vô nghĩa,
Có em rồi thà vô nghĩa còn hơn !

trasua
Admin

Tổng số bài gửi : 217
Join date : 15/01/2011
Age : 29
Đến từ : Thị trấn Đoan Hùng - Đoan Hùng - Phú Thọ - Việt Nam

Xem lý lịch thành viên http://trasua.forumvi.net

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết